Tháp Pô Klong Garai
Dấu ấn linh thiêng trên Đồi Trầu
Tháp Pô Klong Garai nằm trên ngọn đồi Đồi Trầu (Mbuen Hala) thuộc địa phận phường Đô Vinh, tỉnh Khánh Hòa. Tháp Pô Klong Garai được xây theo mẫu số chung ảnh hưởng Ấn Độ giáo. Tuy được xây trên mô hình tháp của Ấn Độ giáo, nhưng tháp Chăm nhỏ bé hơn và có ảnh hưởng của văn hóa bản địa. Tháp Pô Klong Garai là một trong những quần thể tháp Chăm đẹp và hoàn chỉnh nhất còn lại đến hôm nay. Sắc gạch đỏ, bố cục ba công trình và vị trí cao thoáng khiến khu tháp hiện lên mạnh mẽ, trang nghiêm nhưng không tách rời cảnh quan nắng gió của Panduranga.
Tháp Pô Klong Garai được xây dựng khoảng cuối thế kỷ XIII - XIV, bởi vua Jaya Sinhavarman III, để thờ thần Shiva, đến sau thế kỷ XV mới được người Chăm bản địa hoá để thờ vị Vua Pô Klong Garai (Pô Klong Garai, Po Klaong Girai). Đây không chỉ là di tích kiến trúc cổ, mà còn là không gian linh thiêng gắn với Pô Klong Garai - nhân vật vừa mang dấu ấn lịch sử, vừa được thần hóa trong ký ức cộng đồng Chăm qua nhiều thế kỷ.
Tháp Pô Klong Garai được xây dựng trong bối cảnh tín ngưỡng Shiva giáo đã ăn sâu vào đời sống Chăm. Nhưng điều đặc biệt là công trình về sau gắn với việc thờ phụng vua Pô Klong Garai ( Po Klaong Girai ) - nhân vật được cộng đồng ghi nhớ như một vị vua có công trị thủy, chăm lo nông nghiệp và bảo hộ cư dân.
Pô Klong Garai trị vì vương quốc Chăm pa được 54 năm (1151-1205), ông cai trị đất nước thịnh vượng, đặc biệt có công rất lớn trong việc khai mương đắp đập, dẫn thủy nhập điền, thể hiện rõ nhất là đập Nha Trinh và Lâm Cấm, công trình đến nay vẫn còn phát huy tác dụng cho phát triển nông nghiệp.
Quần thể ba công trình trên đỉnh đồi
Một tổ hợp kiến trúc có trục hướng và lớp lang rõ ràng
Theo tài liệu của nhà nghiên cứu của người Pháp, ông H. Pamentier (khảo sát 1909 - 1918) cho rằng: Tháp Pô Klong Garai là một quần thể kiến trúc lớn bao gồm 6 công trình kiến trúc. Hiện nay, di tích còn lại ba ngôi tháp gồm tháp Cổng, tháp Lửa và tháp Chính. Ngoài ba tháp hiện còn tồn tại, còn 1 tháp canh ở Đông Nam cùng dấu tích đế tháp ở phía Bắc và phía Tây Nam. Có một giả thuyết, có thể là một nhà để đồ (dạng tháp dài hoặc nhà dài) nhưng đã bị đổ chỉ còn lại nền gạch trước tháp Chính. Ngoài ra, có một miếu nhỏ phía Tây được người Chăm xây dựng trước năm 1975 để thờ vợ Pô Klong Garai là Bia Nai Kuer.
Về kỹ thuật xây dựng, tháp Chăm chủ yếu làm bằng gạch nung có màu đỏ, kích thước của mỗi viên gạch thường là 35 x 18 x 5mm. Các nhà nghiên cứu người Pháp và gần đây là các chuyên gia Ba Lan đã nghiên cứu chất kết dính trong xây dựng tháp Chăm. Chất kết dính mà người Chăm xưa đã dùng ở đây có màu nâu đậm, giữa các viên gạch chỉ cần một lớp mỏng cũng đủ chắc chắn và có độ bền.
Tháp Chính - trái tim của di tích
Khối tháp mạnh mẽ, cân xứng và giàu nhịp điệu thị giác
Là tháp thờ vị thần Shiva, sau này là Pô Klong Garai, được xây dựng trên vị trí trung tâm ngọn đồi, có quy mô lớn nhất. Tháp cao 20,50m (có chiều dài: 13,80m; chiều rộng: 10,71m). Tháp gồm 4 tầng, được xây theo bình đồ vuông là kiểu kiến trúc truyền thống, với nội thất hình chữ nhật theo hướng Đông - Tây và mở cửa ở hướng Đông.
Đứng trước Tháp Chính, cảm nhận bề mặt kín khít mạch, các cột giả chia nhịp, các ô khám và lớp mái tạo nên cấu trúc chặt chẽ. Đây là nơi hội tụ đồng thời giá trị tôn giáo, nghệ thuật và ký ức cộng đồng.
Tháp Cổng và Tháp Lửa
Hai công trình nhỏ nhưng quyết định nhịp điệu của toàn thể
Tháp Cổng nằm đối diện Tháp Chính, có bình đồ vuông, quay về hướng Đông, là hình ảnh thu nhỏ của tháp Chính, cao 8,65m (có chiều dài: 5,10m; rộng: 4,85m), hai cửa thông nhau theo hướng Đông - Tây. Tháp cũng được xây theo nguyên tắc thu nhỏ dần lên tương tự như tháp Chính.
Trong khi đó, Tháp Lửa nằm ở phía Nam để thờ thần Lửa; có mái cong hình thuyền, khác hẳn so với hình dáng và cấu trúc của tháp Chính và tháp Cổng. Tháp kéo dài theo hướng Đông - Tây, có bình đồ hình chữ nhật, cao 9,31m (dài: 8,18m; rộng: 5,00m). Tháp có ba cửa thông nhau ba hướng Đông, Nam và Bắc, riêng phía Nam là cửa sổ. Bên ngoài mặt tường có trang trí bằng các cột ốp, mặt tường dài 5 cột, mặt tường ngắn 3 cột nhưng ở dưới chân không có hình trang trí. Các cột ốp ở góc tường nhô ra nhiều hơn so với tháp Chính và tháp Cổng, chân cột thuộc loại gờ lượn đơn giản, tháp có 2 tầng nhỏ phía trên.
Tượng thờ Vua Pô Klong Garai
Nơi vương quyền gặp thần quyền
Tượng Mukhalinga Pô Klong Garai: Tượng thờ Pô Klong Garai được tạo tác trên Linga - Yoni, một biểu tượng sáng tạo của thần Shiva, được thờ phụng trong tháp chính Pô Klong Garai. Đây là hiện vật gốc độc bản, là tác phẩm điêu khắc được nghệ nhân thể hiện khéo léo và độc đáo về hình tượng Mukhalinga, nhưng đầu điêu khắc hình mặt vua gắn vào Linga - một hình ảnh trừu tượng của Thần Shiva cùng hình ảnh vị vua oai nghiêm đầy sáng tạo.
Sự kết hợp hoàn hảo hai yếu tố thần quyền và vương quyền nhất thể chỉ có ở tượng thờ Pô Klong Garai. Với những yếu tố trên, tượng thờ Pô Klong Garai được công nhận là Bảo vật quốc gia tại Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 18/01/2024.
Khi Đồi Trầu thức giấc trong mùa Katê
Tháp cổ trở lại với nhịp sống cộng đồng Chăm
Tháp Pô Klong Garai là trung tâm hành lễ tôn giáo của cư dân Chăm trong vùng. Trong đó, tháp Pô Klong Garai là nơi tổ chức lễ hội lớn và quy mô nhất.
Hàng năm diễn ra nhiều nghi lễ như: Lễ Mở cửa tháp (lễ Peh Bimbeng Yang); Lễ Cầu đảo (lễ Yuer yang); Lễ hội Katê; Lễ cúng Nữ thần Mẹ xứ sở Pô Inư Nưgar (lễ Cambur). Trong đó, nổi bật và thu hút sự quan tâm đặc biệt nhất là lễ hội Katê. Người Chăm tổ chức lễ hội Katê nhằm cúng tế các vị thần như: Pô Klong Garai, Pô Rômê,… tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên, trời đất đã phù hộ độ trì. Lễ hội Katê diễn ra trong một không gian rộng lớn, thời gian tổ chức vào thượng tuần trăng từ mồng 01 tháng 7 lịch Chăm (khoảng tháng 10 dương lịch) và kéo dài cả tháng, cho nên người Chăm thường gọi là Bilan Katê (tháng Katê).

