Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa - cơ sở 2
Đường 16/4, phường Phan Rang, tỉnh Khánh Hòa

Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa - cơ sở 2 (tên cũ là Bảo tàng tỉnh Ninh Thuận) được xây dựng vào năm 2007, bắt đầu đi vào hoạt động từ đầu năm 2012. Bảo tàng mang kiến trúc độc đáo khi giao thoa giữa phong cách kiến trúc truyền thống của người Ninh Thuận cùng phong cách hiện đại hài hòa. Bảo tàng Khánh Hòa - cơ sở 2 được biết đến là một trong những điểm đến hấp dẫn giúp bạn hiểu rõ hơn về lịch sử, đặc biệt văn hóa của các dân tộc sinh sống tại đây. Bảo tàng xây dựng gồm 4 tầng lâu với từng chức năng khác nhau. Hiện nay, bảo tàng đang lưu giữ tới 38.884 hiện vật để tái hiện các thời kỳ lịch sử. Đặc biệt, bạn sẽ có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn về lịch sử, văn hóa đời sống của người Chăm.
Được ví như viên pha lê nằm hiên ngang giữa lòng thành phố Phan Rang - Tháp Chàm. Khi nhìn bảo tàng từ bên ngoài, bạn có thể dễ dàng liên tưởng đến những cánh buồm ngoài khơi tượng trưng cho khát vọng vươn lên của thành phố biển. Bảo tàng mang biểu tượng cánh buồm, nhưng khi nhìn tổng thể từ trên cao, bảo tàng lại mang dáng dấp của một kim tự tháp vững chắc. Đồng thời, ngay cổng vào chính là hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quốc kỳ. Một thiết kế mang biểu tượng của chiến thắng, của sự hiên ngang cũng như mang ước vọng phát triển của thành phố.

Không gian điêu khắc đá Chăm
Những hiện vật đá kể lại chiều sâu nghệ thuật và tín ngưỡng Chăm
Người Chăm là cư dân sinh sống lâu đời trên dải đất miền Trung Việt Nam. Trong lịch sử hình thành và phát triển, họ đã đạt được một trình độ cao về tổ chức xã hội, có mối giao lưu rộng rãi, đa chiều với nhiều thành phần cư dân vùng lục địa và hải đảo Châu Á. Từ nguồn gốc bản địa, cải biến những yếu tố bên ngoài, người Chăm đã sáng tạo nên một nền văn hóa đa dạng và độc đáo. Ngày nay, trong nghệ thuật tạo hình, người Chăm đã để lại nhiều di sản kiến trúc đền tháp đồ sộ và những tác phẩm điêu khắc có giá trị nghệ thuật cao.

Hiện nay, Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa là nơi lưu giữ nhiều tác phẩm điêu khắc Chăm có giá trị, với các bộ sưu tập hiện vật quý hiếm, tiêu biểu cho từng giai đoạn phát triển của nghệ thuật điêu khắc Chăm từ cuối thế kỷ VIII - XVII; bộ sưu tập về nghệ thuật điêu khắc đá như: văn khắc, tượng Bia, đá Kut… đang được trưng bày tại Bảo tàng. Hầu hết, đây là những tác phẩm điêu khắc nguyên bản, có nguồn gốc xuất xứ từ các địa phương trong tỉnh chuyển về Bảo tàng trong nhiều thời gian khác nhau, thể hiện trên chất liệu bằng đá. Các tác phẩm này có niên đại cuối thế kỷ thứ VIII và đầu thế kỷ thứ IX, thuộc nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau và có tính nối tiếp theo niên đại sớm như: Bia Phước Thiện, Bia Hòa Lai cho đến các loại hình tượng Bia, đá Kut với niên đại muộn hơn.
Bia Hòa Lai và Bia Phước Thiện
Hai bảo vật quốc gia mở ra những lớp thông tin quý về lịch sử Chăm
Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa hiện lưu giữ những hiện vật đá Chăm có giá trị đặc biệt, trong đó Bia Hòa Lai và Bia Phước Thiện là hai bảo vật quốc gia tiêu biểu. Đây không chỉ là hiện vật khảo cổ, mà còn là nguồn tư liệu quan trọng giúp tìm hiểu lịch sử, chữ viết, tín ngưỡng và không gian văn hóa Chăm trên vùng đất Khánh Hòa.

Không gian trưng bày bổ sung hình ảnh hai bảo vật quốc gia quan trọng: Phù điêu Vua Pô Rômê và Tượng thờ Vua Pô Klong Garai. Cả hai hiện vật đều gắn với những vị vua được cộng đồng Chăm tôn kính, phản ánh sự kết hợp giữa quyền lực vương triều, tín ngưỡng bản địa và ảnh hưởng tôn giáo Ấn Độ.
Văn hóa Sa Huỳnh
Một lớp ký ức tiền – sơ sử trên dải đất ven biển miền Trung
Văn hóa Sa Huỳnh là xã hội tiền sử thuộc thời đại kim khí nằm ven biển miền Trung Việt Nam và hầu như phân bố trên các dải cồn cát ven biển, gần đầm nước ngọt, sát cạnh cửa sông ra biển, đồng thời còn mở rộng không gian từ vùng trung du miền núi đến các đảo gần bờ. Nó phát triển từ sơ kỳ đồng thau đến sơ kỳ đồ sắt, được xác định vào khoảng năm 1.000 TCN đến cuối thế kỷ II. Quá trình tiến tới giai đoạn phát triển cực thịnh vào khoảng 2.500 - 2.000 năm cách ngày nay. Chủ nhân được cho là những người Tiền Mã Lai - Đa Đảo (Proto Malay - Polylesien). Họ chủ yếu nói tiếng Nam Đảo (Malayo - Polynesien).
Không gian này giới thiệu đời sống cư dân cổ qua các dấu tích cư trú, mộ táng và hiện vật tùy táng. Đặc biệt, tập tục chôn người quá cố trong chum lớn là nét đặc trưng nổi bật, phản ánh quan niệm về sự sống, cái chết và thế giới bên kia của cư dân Sa Huỳnh.

Năm 1972, các di chỉ tại thôn Mỹ Hiệp, xã Thanh Hải và thôn Mỹ Tường, xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải (nay là xã Vĩnh Hải, tỉnh Khánh Hòa) đã phát hiện những dấu tích Tiền - Sơ sử đầu tiên về văn hóa Sa Huỳnh tại di tích Hòn Đỏ. Năm 1979, sau khi khai quật di chỉ Hòn Đỏ, đã phát lộ 03 tầng văn hóa: lớp dưới cùng là nơi cư trú của cư dân hậu kỳ đá mới; lớp giữa và lớp trên là nơi cư trú với mộ táng thuộc văn hóa khảo cổ học Sa Huỳnh. Hiện vật tìm thấy gồm các loại: Rìu đá, mảnh vòng tay, cuốc đá, khuyên tai… Hiện nay các hiện vật được Bảo tàng tỉnh lưu giữ và trưng bày.
Văn hóa người Chăm
Một cộng đồng lưu giữ ngôn ngữ, tín ngưỡng, lễ hội và nghề truyền thống

Khánh Hòa là nơi có cộng đồng người Chăm sinh sống đông đảo, phân bố tại nhiều thôn, làng trong tỉnh. Tiếng nói của người Chăm gần gũi với các dân tộc Raglai, Churu, Ê Đê, Jarai, thuộc hệ ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo. Đời sống kinh tế truyền thống của người Chăm gắn với nông nghiệp lúa nước, nương rẫy, chăn nuôi, làm gốm, dệt thổ cẩm và thuốc Nam. Về tín ngưỡng, cộng đồng Chăm chịu ảnh hưởng của ba hệ tôn giáo: Chăm Ahiér, Chăm Awal – Bàni và Chăm Islam.
Khu vực này có trưng bày Linga - Yoni được phát hiện tại tháp Hòa Lai, đỉnh chóp bằng gỗ của tháp Po Ramé, tượng Nữ thần Po Inư Nưgar Maram phát hiện tại khu vực sông Lu thuộc thôn Mông Nhuận, Phước Hữu, Khánh Hòa. Tượng đá được phát hiện vào năm 1994, tại ga Hòa Trinh khoảng 1.200m về hướng Nam thuộc thôn Văn Lâm, Thuận Nam, Khánh Hòa. Cạnh đó là mô hình kiến trúc nhà “Lẫm” (Thang Lâm: nhà khách có kiến trúc mặt tiền bằng danh mộc và được chạm nhiều hoa văn quý), kính mời quý khách tham quan trưng bày.

Trang phục và nghi lễ hôn nhân Chăm
Khi nhà gái giữ vai trò chủ động trong một nghi lễ cộng đồng trang trọng
Người Chăm theo chế độ mẫu hệ nên nữ giới đi cưới nam giới và quyền chủ động trong hôn nhân thuộc về nhà gái. Theo truyền thống của tộc người Chăm thì hôn nhân của con cái đều do cha mẹ quyết định. Nhưng trong trường hợp, khi đôi trai gái tự tìm hiểu nhau và muốn kết hôn với nhau phải được sự đồng ý của cha mẹ và hai bên tộc họ.
Cộng đồng người Chăm ảnh hưởng tôn giáo Bàlamôn quy định rằng để được công nhận đôi trai gái là vợ chồng thì nhà gái phải thực hiện các nghi lễ như: lễ dạm hỏi (Paluak panuec), lễ hỏi (Nao puec), lễ dứt lời (Ahar paklaoh panuec), lễ cưới (Mbeng pandih anâk matâu hoặc Mbeng mânyum). Lễ cưới được diễn ra theo quy trình như sau: lễ cúng trình tổ tiên (Khan praok), Lễ đưa đón chú rể (Tabiak raok matâu), lễ nhập phòng the (Jaw tangin Ong Inâ amâ), lễ trả khăn áo hay còn gọi là lễ lại mặt (Taleh khan aw).

Nhạc cụ truyền thống Chăm
Kèn Saranai, trống Ginăng, Baranâng và tiếng đàn Kanyi trong nghi lễ
Âm nhạc là thành tố quan trọng trong đời sống văn hóa Chăm. Nhạc cụ không chỉ phục vụ đời sống tinh thần, mà còn là phương tiện kết nối con người với thần linh, tổ tiên và người đã khuất.
Nhạc cụ Chăm không chỉ là sản phẩm vật chất đơn thuần mà còn là phương tiện biểu diễn nghệ thuật mang lại biểu cảm thẩm mỹ trong đời sống tâm linh. Phải nói lễ hội Chăm là nơi bảo tồn, lưu giữ nhạc cụ Chăm. Hầu hết các loại nhạc cụ Chăm nhằm mục đích để phục vụ cho lễ hội. Nhạc cụ Chăm sử dụng trong lễ hội bao gồm: đàn Kanyi, đàn Rabap, trống Ginang, trống Baranâng, kèn Saranai, trống Hagar sit (trống nhỏ), Céng, Aseng (tù và), Tamâkhaik (nhạc gõ bằng 2 cây gỗ).
Tín ngưỡng và đồ tự khí Chăm
Những vật dụng thờ tự thể hiện lòng tôn kính với thế giới thần linh
Tín ngưỡng Chăm phong phú, đa dạng, chi phối sâu sắc đời sống cộng đồng và tồn tại dưới nhiều hình thức như tín ngưỡng sơ khai, thờ cúng tổ tiên, lễ nghi vòng đời và tín ngưỡng liên quan đến sản xuất nông nghiệp
Đồ tự khí là những vật dụng dùng trong thờ tự, cúng kính, làm lễ; được sử dụng trực tiếp như một phần không thể thiếu trong các lễ nghi của người Chăm. Đa phần các đồ tự khí (đồ thờ tự, thờ cúng) thường làm bằng kim loại (kim khí) nhằm lưu giữ lâu dài do đặc tính kim loại bền hơn các vật liệu khác. Các đồ tự khí bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng là những đồ làm bằng chất liệu quý, có giá trị cao về cả kinh tế lẫn lịch sử, văn hóa. Nó cũng thể hiện sự trân trọng, tôn kính của con người đối với thế giới thần linh. Tuy nhiên tùy vào thân thế, đẳng cấp, quan tước, điều kiện kinh tế… mà các đồ tự khí của các gia đình sẽ được làm bằng những chất liệu khác nhau: vàng, bạc, đồng, gỗ, gốm…
Gốm Bàu Trúc, dệt Mỹ Nghiệp và lễ hội Chăm
Nghề thủ công, trang phục và lễ hội làm nên sức sống văn hóa Chăm hôm nay

Gốm Chăm Bàu Trúc nổi bật với kỹ thuật làm gốm bằng tay, không dùng bàn xoay và nung ngoài lộ thiên. Mỗi sản phẩm là một độc bản, mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị và gắn với bàn tay tài hoa của người phụ nữ Chăm. Nghệ thuật làm gốm Bàu Trúc là đặc trưng riêng có của người Chăm nói chung, làng Chăm Bàu Trúc nói riêng, đã được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.
Bên cạnh đó, nghề dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp lưu giữ kỹ thuật thủ công qua các thao tác xử lý bông, se sợi, nhuộm, mắc sợi và dệt hoa văn. Không gian kết thúc còn giới thiệu trang phục của ba cộng đồng Chăm Ahiér, Awal – Bàni và Islam, cùng các lễ hội tiêu biểu như Katê, lễ tang ma, lễ nhập Kut và nghi lễ đầu năm của người Chăm.

